Bệnh Whitmore
Dịch tễ học
Bệnh Melioidosis (Whitmore) do trực khuẩn Gram âm Burkholderia pseudomallei tồn tại
trong môi trường tự nhiên gây ra. Con người có thể mắc bệnh Melioidosis khi tiếp xúc trực tiếp với đất
và nước bề mặt bị nhiễm vi khuẩn B. pseudomallei.
Người và động vật có thể nhiễm khuẩn mắc phải do hít phải hạt nước hoặc bụi có
nhiễm vi khuẩn, uống nguồn nước nhiễm khuẩn hoặc tiếp xúc trực tiếp với đất
nhiễm khuẩn, đặc biệt là qua xây xước nhỏ ngoài da.
Bệnh có biểu hiện lâm sàng đa dạng, ở nhiều cơ quan khác nhau: Viêm
phổi; nhiễm trung tiết niệu; nhiễm trùng da; nhiễm trùng máu; viêm xương; khớp
nhiễm khuẩn; áp xe não, viêm màng não tủy.
Bệnh
khó lây truyền từ người sang người. Đây là bệnh ít gặp, không gây thành dịch,
nhưng bệnh cảnh thường tiến triển nặng, có tỷ lệ tử vong cao, đặc biệt ở những
người mắc bệnh mạn tính.
Bệnh Melioidosis ghi nhận số mắc nhiều tại Úc, Đông
bắc Thái Lan. Tại khu vực Đông Nam Á, các nước Malaysia, Singapore, Cambodia,
Lào và Việt Nam cũng ghi nhận các trường hợp mắc bệnh Melioidosis, ngoài ra còn
ghi nhận mắc tại bán lục địa Ấn Độ, miền nam Trung Quốc, Hồng Kông, Đài Loan,
một số quốc gia khu vực của châu Mỹ còn ghi nhận. Tại Việt Nam, bệnh
Melioidosis được mô tả lần đầu tiên vào năm 1925 tại TP. Hồ Chí Minh, sau đó là
Hà Nội, Huế. Hiện chưa có số liệu chính xác về tình hình mắc bệnh Melioidosis
tại Việt Nam, có ghi nhận số mắc tại nhiều địa phương và các trường hợp nhập
viện điều trị tại các bệnh viện tuyến cuối ở Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh.
Tử vong do melioidosis khoảng 40%, có thể tăng lên
70-84% ở thể nhiễm trùng máu mặc dù được điều trị đúng.
Đặc điểm vi khuẩn Whitmore
Vi khuẩn Burkholderia
pseudomallei còn có tên gọi khác là Pseudomonas
pseudomallei, đây là vi khuẩn gram âm, lưỡng cực, hiếu khí, hình roi, di động.
Vi khuẩn bài tiết ra có thể sống sót nhiều tháng đến
nhiều năm trong đất và nước bẩn. Một nghiên cứu xác định B. pseudomallei có thể sống sót trên 14 năm trong nước cất. Một số
nghiên cứu đã cho thấy B. pseudomallei có
thể tồn tại trong nước ở nhiệt độ phòng kéo dài 8 tuần, trong nước bùn lầy có
thể tồn tại trên 7 tháng, trong đất tồn tại trên 3 tháng. Vi khuẩn này cũng có
thể sống trong môi trường thuốc kháng sinh và một số chất tẩy rửa, chựu được ở
pH 4,5 trong 70 ngày.
Cơ chế bệnh sinh
B. pseudomallei
là loại sinh vật hoại sinh, phát triển trong đất, nước nhiễm bẩn, bùn lầy
tại vùng dịch. Chúng có mặt trong môi trường mà không nhất thiết phải thông qua
vật chủ trung gian để sinh trưởng và nhân lên.
Người và động vật bị nhiễm vi khuẩn từ môi trường nhiễm
bẩn. Vi khuẩn xâm nhập vào cơ thể theo đường ăn uống, hô hấp (hít) hoặc trực
tiếp qua vết thương, trầy sước da. Động vật bị nhiễm bệnh có thể giải phóng vi
khuẩn vào môi trường từ dịch tiết vết thương, chất tiết mũi, sữa, phân và nước
tiểu, tùy thuộc vào vị trí của nhiễm trùng.
Các yếu tố nguy cơ mắc bệnh bao gồm: Đái tháo đường,
nghiện rượu, bệnh phổi mạn tính, suy thận mạn, đều trị corticoid dài ngày, ung
thư.
Biểu hiện lâm sàngcác thể melioidosis
Vi khuẩn B. pseudomallei khi vào cơ thể có sẽ thâm nhập
vào các bộ phận của cơ thể, thường gặp là ở phổi. Bên cạnh đó là các cơ quan
nội tạng như gan, thận, tim, cơ, da các tuyến tiêu hóa… Bệnh Melioidosis gặp ở
tất cả các độ tuổi, cả ở nam và nữ, gặp nhiều hơn ở người có nghề nghiệp tiếp
xúc trực tiếp và thường xuyên với đất, nước. Bệnh Melioidosis dễ bị mắc ở những
người có các bệnh mãn tính như đái tháo đường, bệnh thận, bệnh phổi, suy giảm
miễn dịch…. Biểu hiện lâm sàng của bệnh đa dạng bao gồm sốt, với các
kiểu như sốt cơn hoặc sốt kèm theo lạnh run, sốt kéo dài, suy hô hấp,
loét da, viêm đường tiết niệu, viêm phổi, áp xe ở gan, lách, nhiễm trùng huyết,
suy đa phủ tạng.
Thể viêm phổi
Trong số các cơ quan nhiễm trùng, viêm phổi là bệnh
cảnh lâm sàng hay gặp nhất, chiếm khoảng 50% số ca. Viêm phổi có thể biểu hiện
nhẹ nhàng không phân biệt được với viêm phổi do nguyên nhân khác hoặc diến tiến
thành viêm phổi cấp nặng với sốc nhiễm trùng kèm theo. Thời gian ủ bệnh khoảng
10-14 ngày. Biểu hiện lâm sàng đa đạng có thể ở phổi - nhiễm trùng máu cấp
tính, hoặc tiến triển mạn tính.
Bệnh nhân có kèm nhiễm trùng huyết thường có sốt,
mệt, ho, đau ngực. X-quang phổi có hình ảnh thâm nhiễm dạng nốt lan tỏa có thể
ở cả hai trường phổi, tổn thương liên kết lại, tạo hang, tiến triển nhanh, phù
hợp với hình ảnh viêm phổi hoại tử, nhiều ổ áp xe do lan từ đường máu tới trên
sinh thiết phổi. Bệnh nhân viêm phổi không có nhiễm trùng huyết thường biểu
hiện chủ yếu với ho, khạc đờm mủ, khó thở, X-quang có hình ảnh đông đặc 1 hoặc
2 thùy phổi.
Viêm phổi bán cấp hoặc mạn tính thường có biểu hiện
giống lao phổi với sốt, sụt cân, ho đờm, có khi ho ra máu, thâm nhiễm
thùy trên phổi hoặc không tạo hang trên phim X quang..
Loét da hoặc áp xe
Nghiên cứu Darwin cho thấy 28% bệnh nhân không nhiễm
trùng huyết có biểu hiện loét da hoặc áp xe. Và những tổn thương này không đáp
ứng với kháng sinh đường uống được dùng trước khi nhập viện. Tuy nhiên, viêm mô
tế bào lan tỏa thường hiếm gặp.
Vi khuẩn đi vào da thông qua một vết rách hoặc vết
trầy xước da và nhiễm trùng tại chỗ với các vết loét tiến triển. Thời gian ủ
bệnh thường 1-5 ngày. Các tuyến hạch lympho sưng, vi khuẩn đi vào vật chủ thông
qua niêm mạc có thể gây các tăng tiết nhầy tại các vùng bị ảnh hưởng.
Viêm khớp nhiễm trùng và viêm xương tủy xương
Triệu chứng và dấu hiệu của viêm khớp và viêm xương
tủy xương có thể là biểu hiện ban đầu khiến bệnh nhân nhập viện điều trị
hoặc khởi phát sau khi nhập viện với một chẩn đoán khác, thường là viêm phổi.
Khớp gối là vị trí nhiễm trùng trường gặp nhất, kế đến là mắt cá chân, khớp hông
và khớp vai.
Viêm tiết niệu và sinh dục
Thường biểu hiện với sốt, đau trên xương mu, tiểu
khó, có thể kèm tiêu chảy. Tiền liệt tuyến sưng đau có thể phát hiện khi thăm
trực tràng.
Viêm não tủy
Nghiên cứu ở Bắc Úc ghi nhận thể bệnh này chiếm
khoảng 4% trường hợp. Biểu hiện là yếu chi, dấu hiệu tiểu não, liệt dây thần
kinh sọ (VI, VII). Hầu hết có tri giác bình thường hoặc rối loạn ở mức độ nhẹ.
Dịch não tủy có sự gia tăng bạch cầu, protein tăng, glucose bình thường
hoặc giảm nhẹ.
Nhiễm khuẩn huyết
Nếu không được điều trị nhanh chóng, thích hợp, nhiễm
trùng phổi có thể tiến triển thành nhiễm trùng máu. Nhiễm trùng máu còn được
gọi là sốc nhiễm trùng và là dạng melioidosis nghiêm trọng nhất có thể đe dọa
đến tính mạng.
Sốc nhiễm khuẩn thường xảy ra nhanh chóng, mặc dù nó có thể phát triển dần dần ở một số người. Các triệu chứng của nó bao gồm:
Sốc nhiễm khuẩn thường xảy ra nhanh chóng, mặc dù nó có thể phát triển dần dần ở một số người. Các triệu chứng của nó bao gồm:
+ Sốt, đặc biệt là run rẩy và đổ mồ hôi
+ Đau đầu, viêm họng
+ Vấn đề về hô hấp, khó thở
+ Đau bụng trên, tiêu chảy
+ Đau khớp và đau cơ, mất phương hướng
+ Vết loét có mủ trên da hoặc bên trong gan, lá lách, cơ hoặc tuyến
tiền liệt
Nhiễm trùng khác:
- Áp xe cơ quan như gan, lách, thận, tiền liệt tuyến.
Biểu hiện thường gặp là sốt, ớn lạnh, run, có hoặc khong kèm tụt huyết áp.
- Viêm tuyến mang tai có mủ: Là bệnh cảnh thường gặp
ở trẻ em Thái Lan, chiếm >40% trường hợp melioidosis ở trẻ em Thái Lan.
Chẩn đoán Bệnh Whitmore
Chẩn đoán bệnh Melioidosis dựa vào các yếu tố dịch tễ
như tiếp xúc với đất, nước, bụi, các dấu hiệu lâm sàng và có kết quả định danh
vi khuẩn B. pseudomallei từ các mẫu bệnh phẩm.
Melioidosis có thể ảnh hưởng đến hầu hết các cơ quan
và có các triệu chứng tương tự như nhiều bệnh khác tuy nhiên một chẩn đoán sai
lầm có thể phải đánh đổi bằng cả tính mạng của bệnh nhân.
Nuôi cấy vi khuẩn B. pseudomallei được coi
là xét nghiệm chẩn đoán tiêu chuẩn vàng. Bệnh phẩm bao gồm máu, đờm, phết họng,
phết tổn thương da và vết loét, dịch khớp gối, dịch áp xe…
PCR được đưa vào sử dụng trong chẩn đoán nhưng cho
đến nay kết quả cho thấy có độ nhạy và độ đặc hiệu chưa cao.
Hình ảnh học:
- X quang phổi: Tổn thương trên phim X quang của bệnh
nhân viêm phổi cấp do Melioidosis có thể là hình ảnh đông đặc thùy hoặc nhiều
thùy phổi, tổn thương hoại tử phổi, tràn dịch màng phổi. Tạo hang và hình ảnh
áp xe với mức hơi dịch cũng thường gặp.
- CT và MRI: Phim CT bụng và chậu nên được thực hiện
thường quy ở bệnh nhân người lớn nghi ngờ hoặc đã xác định Melioidosis, để xác
định tổn thương áp xe không triệu chứng ở tiền liệt tuyến, lách, thận , gan.
Bệnh nhân viêm não tủy có hình ảnh CT sọ não bình thường, tuy nhiên lại có hình
ảnh tổn thương đáng kể trên phim MRI với tăng tín hiệu T2.
Hướng điều trị Whitmore
Điều trị căn nguyên gây bệnh Melioidosis bằng sử dụng
các kháng sinh có nhạy cảm với các chủng B. pseudomallei.
Kèm theo đó là điều trị các triệu chứng và các biến
chứng kèm theo và chăm sóc, điều dưỡng phục hồi sức khỏe người bệnh.
Hiện chưa có vắc xin phòng bệnh Melioidosis
Khuyến cáo kiểm soát nhiễm khuẩn và phòng ngừa Bệnh Whitmore
Những người sống trong hoặc đến những khu vực phổ
biến bệnh melioidosis nên thực hiện những điều sau để ngăn ngừa nhiễm trùng:
Với cộng đồng:
Hạn chế tiếp xúc với đất hoặc nước bùn, đặc biệt là
những nơi bị ô nhiễm nặng.
Sử dụng giày, dép và găng tay đối với những người
thường xuyên việc ngoài trời, tiếp xúc với đất và nước bẩn, đặc biệt đối với
những người có nguy cơ cao.
Khi có vết thương hở, vết loét hoặc vết bỏng cần
tránh tiếp xúc với đất hoặc nước có khả năng bị ô nhiễm. Nếu bắt buộc phải tiếp
xúc thì sử dụng băng chống thấm và cần được rửa sạch đảm bảo vệ sinh.
Những người có bệnh mãn tính như tiểu đường, suy giảm
miễm dịch cần được chăm sóc, bảo vệ các tổn thương để ngăn ngừa nhiễm khuẩn.
Khi nghi ngờ nhiễm bệnh cần đến cơ sở y tế để được tư
vấn, khám phát hiện, xét nghiệm xác định nhiễm vi khuẩn B. pseudomallei
và điều trị kịp thời.
Trong bệnh viện:
Thực hiện vệ sinh khử khuẩn bề mặt đúng quy định.
Tuân thủ quy trình khi thay băng chăm sóc đối với vết
thương, vết mổ.
Nhân viên y tế nên đeo khẩu trang, găng tay và áo
choàng khi tiếp xúc với người bệnh.
Đối với các bác sĩ, khi nghi ngờ bệnh nhân nhiễm
Whitmore thì nên cho chỉ định cấy máu, mủ, đờm, nước tiểu… ngay.
Tài liệu tham khảo:
Bệnh Melioidosis (Whitmore) và các biện pháp phòng chống - Trang thông tin điện tử của Cục Y tế dự phòng.

0 nhận xét:
Đăng nhận xét